Bản tin Tháng 07/2026
Ngày 28/08/2026
Quản lý thuế đối với giao dịch liên kết của doanh nghiệp từ ngày 01/7/2026
Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 255/2026/NĐ-CР (“Nghị định 255”) quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết của doanh nghiệp có một số quy định đáng lưu ý áp dụng từ ngày 01/7/2026 như sau:
a) Nhận diện Giao dịch liên kết
Giao dịch liên kết là các giao dịch có các dấu hiệu sau:
(i) Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí;
(ii) Giữa các bên có quan hệ liên kết;
(iii) Trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.
b) Bổ sung trường hợp xác định mối quan hệ liên kết
- Bổ sung trường hợp xác định quan hệ liên kết thông qua giao dịch mượn, cho mượn giữa doanh nghiệp với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ gia đình theo quy định, với giá trị giao dịch ít nhất từ 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế.
- Bổ sung trường hợp không áp dụng mối quan hệ liên kết như sau: Chủ nợ, bên bảo lãnh là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ có chức năng mua, bán, xử lý nợ không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp bên nợ hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh theo quy định.
c) Cơ sở dữ liệu sử dụng trong kê khai, xác định, quản lý giá giao dịch liên kết
- Bổ sung Cơ sở dữ liệu quốc gia được sử dụng trong kê khai, xác định, quản lý giá giao dịch liên kết.
- Thứ tự ưu tiên sử dụng cơ sở dữ liệu như sau:
(i) Nguồn dữ liệu được công bố công khai hoặc chính thức (dữ liệu công khai trên thị trường chứng khoán; sàn giao dịch hàng hóa, dịch vụ; Cơ sở dữ liệu quốc gia…);
(ii) Cơ sở dữ liệu thương mại;
(iii) Cơ sở dữ liệu quản lý thuế.
d) Nâng ngưỡng doanh thu được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết
- Ngưỡng doanh thu để được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được nâng từ 200 tỷ đồng lên dưới 500 tỷ đồng, với tỷ suất lợi nhuận thuần tối thiểu theo từng lĩnh vực;
- Bãi bỏ tiêu chí định tính như “thực hiện chức năng đơn giản” khi xem xét điều kiện áp dụng cơ chế miễn lập hồ sơ.
e) Quy định về Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia
- Thay đổi ngưỡng doanh thu hợp nhất toàn cầu phải lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia: Người nộp thuế là Công ty mẹ tối cao tại Việt Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong năm tài chính liền kề trước năm báo cáo tương đương từ 750 triệu Euro trở lên (thay thế ngưỡng 18.000 tỷ đồng trước đây) phải lập và nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.
- Thời hạn nộp chậm nhất là 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao của năm báo cáo.
f) Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
- Nghị định 255 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2026.
- Trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng được chuyển tiếp theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 20/2025/NĐ-CP thì tiếp tục được chuyển tiếp cho thời gian còn lại. Cụ thể, doanh nghiệp thuộc diện chuyển tiếp đối với chi phí lãi vay không được trừ phát sinh trong giai đoạn 2020 - 2023 thì tiếp tục được chuyển tiếp phần chi phí lãi vay còn lại sang kỳ tính thuế tiếp theo trong thời gian còn lại theo quy định.
Quy định về quản lý và sử dụng hóa đơn điện tử từ ngày 01/7/2026
Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 254/2026/NĐ-CP (“Nghị định 254”) hướng dẫn Luật Quản lý thuế về hóa đơn, chứng từ điện tử. Theo đó, một số quy định về quản lý và sử dụng hóa đơn điện tử có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đáng lưu ý như sau:
a) Quy định cụ thể các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử
- Các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử được quy định trên cơ sở kế thừa các nguyên tắc tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, như hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục sản xuất và góp vốn bằng tài sản;
- Nghị định 254 làm rõ trường hợp cho mượn máy móc, thiết bị không thu tiền, không chuyển quyền sở hữu thì không thuộc đối tượng phải lập hóa đơn điện tử;
- Nghị định 254 bổ sung hướng dẫn đối với một số giao dịch trước đây chưa được quy định cụ thể, như dịch vụ nội dung số xuyên biên giới, hoạt động tài chính (tái bảo hiểm, nhận tiền gửi, bán nợ, giao dịch ngoại tệ,…), hoạt động đại lý, cũng như những quy định riêng áp dụng đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.
b) Thay đổi về thời điểm lập hóa đơn
Một số quy định liên quan đến thời điểm lập hóa đơn được sửa đổi, bổ sung phù hợp với đặc thù hoạt động của nhiều ngành nghề và thực tiễn hoạt động kinh doanh, cụ thể:
- Tiền đặt cọc: Khoản tiền đặt cọc theo Bộ luật Dân sự nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ không phải lập hóa đơn tại thời điểm thu tiền. Quy định này áp dụng cho mọi loại dịch vụ, không còn giới hạn ở một số ngành như quy định trước đây.
- Dịch vụ được lập hóa đơn sau thời gian đối soát: Các dịch vụ với số lượng lớn, phát sinh thường xuyên, cần có thời gian đối soát số liệu (như logistic, dịch vụ hoa tiêu hàng hải, dịch vụ công nghệ số, nền tảng số, dịch vụ công nghệ thông tin, dịch vụ tài sản mã hóa, dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon,…) được phép lập hóa đơn tại thời điểm hoàn thành việc đối soát nhưng không quá ngày 07 của tháng sau tháng phát sinh việc cung cấp dịch vụ hoặc không quá 07 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ quy ước.
- Cơ sở khám, chữa bệnh: được phép lập hóa đơn điện tử vào cuối ngày đối với một số dịch vụ y tế nếu đáp ứng các điều kiện về hệ thống quản lý, lưu trữ dữ liệu và khách hàng không có nhu cầu lấy hóa đơn.
- Giao dịch phát sinh trong giờ làm việc ban đêm mà người bán không có phần mềm lập hóa đơn tự động thì được lập hóa đơn chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo.
c) Một số nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn
- Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua theo định dạng chuẩn dữ liệu và ghi đầy đủ nội dung theo quy định;
- Hóa đơn điện tử phải được đăng ký sử dụng theo quy định;
- Người bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ được ủy nhiệm cho bên thứ ba lập hóa đơn điện tử;
- Trường hợp tổ chức thu thuế, phí, lệ phí và người cung cấp dịch vụ cùng thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và tiền bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của một khách hàng thì được tích hợp biên lai thu thuế, phí, lệ phí và hóa đơn trên cùng một định dạng điện tử để giao cho người mua.
d) Quy định chuyển tiếp đối với hóa đơn, biên lai giấy
- Việc quản lý, sử dụng hóa đơn bán hàng dự trữ quốc gia bằng giấy thực hiện theo quy định về bán hàng dự trữ quốc gia cho đến khi có thông báo chuyển đổi sang hóa đơn điện tử của Bộ Tài chính.
- Biên lai giấy theo hình thức tự in, đặt in theo quy định tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP chưa sử dụng hết được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31/12/2026. Từ ngày 01/01/2027 phải thực hiện tiêu hủy và chuyển đổi để áp dụng biên lai điện tử theo định dạng chuẩn dữ liệu.
- Hóa đơn đặt in của cơ quan thuế hết giá trị sử dụng kể từ ngày 01/7/2026 và phải tiêu hủy hóa đơn chưa sử dụng hết theo quy định.
Quy định mới về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp từ ngày 23/7/2026
Ngày 23/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 296/2026/NĐ-CP (“Nghị định 296”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 168/2025/NĐ-CP (“Nghị định 168”), nhằm mục đích hoàn thiện các quy định về đăng ký doanh nghiệp với các nội dung như sau:
a) Cấm việc góp vốn thông qua người đứng tên hộ
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 296 là quy định chủ sở hữu, cổ đông, thành viên của công ty phải thực hiện đầy đủ quy định về tài sản góp vốn và không đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh nghiệp.
b) Hoàn thiện quy định về xác định chủ sở hữu hưởng lợi (“CSHHL”)
Nghị định 296 thay đổi cách tiếp cận trong việc xác định và kê khai CSHHL của doanh nghiệp, theo đó, thay vì chủ yếu dựa vào tỷ lệ sở hữu vốn, cổ phần biểu quyết hoặc quyền chi phối các vấn đề trọng yếu của doanh nghiệp, thì xác định trên cơ sở cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp.
Theo đó, CSHHL của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Bên cạnh việc tiếp tục áp dụng ngưỡng sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết trở lên, tiêu chí xác định CSHHL được mở rộng, cụ thể:
(i) Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp:
- Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, thì các cá nhân trong nhóm này được xác định là CSHHL của doanh nghiệp;
- Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là CSHHL của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.
(ii) CSHHL được xác định thông qua quyền kiểm soát trên thực tế, tức là thông qua một hoặc các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
(iii) Doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.
c) Nghĩa vụ kê khai, thông báo thông tin về CSHHL
- Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có nghĩa vụ: (i) xác định CSHHL của doanh nghiệp thông qua việc rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi xác định được cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế, và (ii) kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh về thông tin CSHHL của doanh nghiệp.
- Trình tự kê khai CSHHL:
(i) Xác định cá nhân có quyền sở hữu: kê khai, thông báo cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền sở hữu tại mục b.(i);
(ii) Xác định theo quyền kiểm soát: Nếu cá nhân không đáp ứng tiêu chí tại mục b.(i) hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí tại mục b.(i) không phải là CSHHL thì xác định cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền thực tế chi phối tại mục b.(ii) để kê khai, thông báo;
(iii) Nếu không có cá nhân đáp ứng hai tiêu chí trên thì kê khai, thông báo thông tin của cá nhân là người quản lý có quyền hạn lớn nhất được quy định tại mục b.(iii).
Quy định về hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu từ ngày 05/9/2026
Ngày 22/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP (“Nghị định 292”) quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương. Theo đó, Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu đã được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/9/2026 và thay thế Nghị định số 69/2018/NĐ-CP (“Nghị định 69”), cụ thể:
a) Nhóm hàng hóa cấm xuất khẩu: Có 10 nhóm hàng hóa cấm xuất khẩu thuộc lĩnh vực quản lý của:
- Bộ Quốc Phòng: 02 nhóm (vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, trang thiết bị về quân sự và các sản phẩm mật mã sử dụng để bảo vệ thông tin bí mật Nhà nước);
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: 02 nhóm (di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, các sản phẩm văn hóa thuộc diện cấm phổ biến, lưu hành và các loại xuất bản phẩm thuộc diện cấm phổ biến, lưu hành tại Việt Nam);
- Bộ Khoa học và Công nghệ: 01 nhóm (tem bưu chính thuộc diện cấm kinh doanh, trao đổi, trưng bày, tuyên truyền);
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường: 02 nhóm (gỗ tròn, gỗ xẻ các loại từ gỗ rừng tự nhiên trong nước và các mẫu vật khai thác từ tự nhiên của các loài nguy cấp, quý, hiếm, các loài thủy sản, giống vật nuôi, giống cây trồng theo quy định);
- Bộ Công Thương: 03 nhóm (giữ nguyên nhóm hàng hóa về hóa chất nguy hiểm và bổ sung 02 nhóm là kim cương thô cấm xuất khẩu và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng).
b) Nhóm hàng hóa cấm nhập khẩu: Có 23 nhóm hàng hóa cấm nhập khẩu thuộc lĩnh vực quản lý của:
- Bộ Quốc phòng: 01 nhóm (vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, trang thiết bị về quân sự);
- Bộ Công an: 01 nhóm (pháo các loại, đèn trời, các loại thiết bị gây nhiễu máy đo tốc độ phương tiện giao thông);
- Bộ Công Thương: 04 nhóm (giữ nguyên nhóm hàng hóa về hóa chất nguy hiểm; hàng tiêu dùng, phương tiện đã qua sử dụng như quy định tại Nghị định 69 và bổ sung 02 nhóm là kim cương thô cấm nhập khẩu và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng);
- Bộ Y tế: 02 nhóm (thiết bị y tế đã qua sử dụng và thuốc, nguyên liệu thuốc);
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: 02 nhóm (về các loại sản phẩm văn hóa và các loại xuất bản phẩm cấm phổ biến, lưu hành);
- Bộ Khoa học và Công nghệ: 04 nhóm (như hàng hóa là sản phẩm công nghệ số đã qua sử dụng; tem bưu chính thuộc diện cấm; thiết bị vô tuyến điện, thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện không phù hợp với quy định và chất thải phóng xạ);
- Bộ Xây dựng: 03 nhóm (các loại phương tiện giao thông theo quy định; vật tư, phương tiện đã qua sử dụng và sản phẩm, vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm amfibole);
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường: 05 nhóm (các nhóm hàng hóa về hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, mẫu động vật, thực vật, các chất được kiểm soát, thuốc thú ý bị cấm), trong đó bổ sung 02 nhóm hàng hóa là (i) các chất được kiểm soát và thiết bị, sản phẩm có chứa hoặc sản xuất từ chất được kiểm soát theo cam kết thực hiện điều ước quốc tế về bảo vệ tầng ô-dôn; và (ii) thuốc thú y cấm sử dụng tại Việt Nam và loại bỏ 01 nhóm hàng hóa là phế liệu, phế thải, thiết bị làm lạnh sử dụng C.F.C;
- Bộ Nội vụ: 01 nhóm (được bổ sung mới so với Nghị định 69 là nhóm các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi cưỡng bức lao động).
c) Cơ chế ngoại lệ đối với một số trường hợp đặc biệt
Việc cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định số 146/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Thương nhân có nhu cầu phải thực hiện thủ tục xin cấp phép, gồm:
(i) Đơn đề nghị xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu;
(ii) Tài liệu thuyết minh về kế hoạch sử dụng, quy trình quản lý hàng hóa trong quá trình sử dụng; phương án xử lý hàng hóa sau khi sử dụng;
(iii) Báo cáo tình hình thực hiện các giấy phép đã được cấp trước đó; các tài liệu, giấy tờ khác theo quy định (nếu có).
Thời hạn lưu giữ, sử dụng hàng hóa cấm nhập khẩu tại Việt Nam thực hiện theo đăng ký của thương nhân với cơ quan cấp phép nhưng không quá 02 năm. Ngoài ra, thương nhân được cấp phép có trách nhiệm gửi báo cáo tình hình xuất khẩu, nhập khẩu, sử dụng và xử lý hàng hóa tới cơ quan cấp phép trước ngày 31/12 hàng năm.
Quy định chi tiết về thương mại điện tử và trách nhiệm của các bên trên nền tảng thương mại điện tử từ ngày 01/7/2026
Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 248/2026/NĐ-CP (“Nghị định 248”) quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động thương mại điện tử (“TMĐT”) trong giai đoạn mới. Theo đó, một số quy định chi tiết về TMĐT và trách nhiệm của các bên trên nền tảng TMĐT có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 như sau:
a) Thông tin phải công khai trên nền tảng TMĐT
Các nền tảng TMĐT phải công khai thông tin về chủ quản, chính sách bảo mật, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, phương thức tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, chính sách về giá, thanh toán, giao hàng, đổi trả hàng, hoàn tiền và các điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
b) Trách nhiệm của đơn vị quản lý, vận hành nền tảng TMĐT
Chủ quản nền tảng TMĐT phải công bố đầy đủ thông tin; báo cáo trực tuyến định kỳ; kiểm tra và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật; duy trì, sử dụng tài khoản đã thực hiện thủ tục hành chính để tiếp nhận, phản hồi thông tin nhằm giải quyết khiếu nại; và phối hợp với cơ quan nhà nước khi cần thiết.
c) Thời hạn thực hiện báo cáo trực tuyến kết quả hoạt động TMĐT thông qua Hệ thống quản lý hoạt động TMĐT
- Chủ quản nền tảng TMĐT phải báo cáo trực tuyến kết quả hoạt động TMĐT của năm trước ngày 15/02 hằng năm.
- Các nền tảng số lớn phải báo cáo trực tuyến về HĐTM điện tử trước ngày 15 hằng tháng và báo cáo trực tuyến về kết quả gỡ bỏ trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Các tổ chức liên quan cũng phải báo cáo kết quả ngăn chặn, tạm dừng, gỡ bỏ trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử báo cáo trước ngày 15 hằng tháng;
- Tổ chức cung cấp dịch vụ logistics hỗ trợ TMĐT báo cáo trước ngày 15 tháng đầu tiên của quý.
d) Dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại
(i) Trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ:
- Bảo đảm tính bảo mật, tính toàn vẹn và khả năng xác thực của hợp đồng;
- Cử đầu mối liên hệ trực tuyến, cung cấp tài liệu và hỗ trợ cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra các hành vi vi phạm;
- Công khai quy chế hoạt động tại vị trí dễ thấy, bằng tiếng Việt trên hệ thống cung cấp dịch vụ của mình;
- Lưu trữ đầy đủ, an toàn dữ liệu về hợp đồng điện tử đã được chứng thực; bảo đảm khả năng truy cập, tra cứu và cung cấp theo yêu cầu. Thời hạn lưu trữ tối thiểu là 10 năm kể từ thời điểm chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định thời hạn dài hơn.
(ii) Doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Có Giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy đối với dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu; và
- Có Đề án cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại theo quy định.
(iii) Giấy phép kinh doanh dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại có thời hạn 10 năm.
Chuyển đổi số trong quản lý thuế và quy định về quản lý thuế đối với nền tảng thương mại điện tử
Ngày 30/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 252/2026/NĐ-CP (“Nghị định 252”) quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế. Cùng ngày, Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 89/2026/TT-BTC (“Thông tư 89”) quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 252.
Theo đó, Nghị định 252 và Thông tư 89 đã đặt ra các quy định mới về chuyển đổi số trong quản lý thuế và quản lý thuế đối với nền tảng thương mại điện tử, bao gồm:
a) Quy định về giao dịch điện tử trong quản lý thuế
- Cơ quan thuế, người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện giao dịch điện tử trong quản lý thuế.
- Người nộp thuế đã thực hiện giao dịch điện tử trong quản lý thuế thì không phải thực hiện bằng phương thức khác.
- Hồ sơ, chứng từ điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ, chứng từ bằng giấy khi bảo đảm tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu, có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh và có chữ ký điện tử, chữ ký số hợp pháp.
- Sử dụng danh tính điện tử để giao dịch điện tử trong quản lý thuế, kết nối qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Hệ thống thông tin quản lý thuế, Hệ thống thông tin của tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN đã kết nối với Hệ thống thông tin quản lý thuế, dịch vụ thanh toán điện tử của các cơ quan nhà nước, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán hoặc tổ chức dịch vụ khác có kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp với Hệ thống thông tin quản lý thuế.
b) Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
- Thuế khai theo từng lần phát sinh: chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày tiếp theo ngày phát sinh nghĩa vụ thuế;
- Thuế khai theo tháng: chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế;
- Thuế khai theo quý: chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế;
- Thuế khai theo năm: chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu tiên của năm dương lịch tiếp theo hoặc của năm tài chính tiếp theo.
c) Tăng cường quản lý thuế đối với thương mại điện tử và nhà cung cấp nước ngoài
- Nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thông qua nền tảng thương mại điện tử được áp dụng cơ chế khai thuế, nộp thuế theo tháng nếu kinh doanh thường xuyên hoặc theo từng lần phát sinh doanh thu tại Việt Nam nếu kinh doanh không thường xuyên.
- Cá nhân không cư trú kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến phải thực hiện đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế theo từng lần phát sinh.
- Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán trực tuyến (trong và ngoài nước) thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế giá trị gia tăng (“GTGT”) và thuế thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”) đối với từng giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu tại Việt Nam của nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử.
- Tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT khi mua hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú trên nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay đối với:
· Thuế GTGT của nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú đối với việc cung cấp dịch vụ;
· Thuế TNDN của nhà cung cấp nước ngoài;
· Thuế thu nhập cá nhân của cá nhân không cư trú.
- Tổ chức kinh doanh tại Việt Nam đã thực hiện khấu trừ, nộp thay cho nhà cung cấp nước ngoài hoặc cá nhân không cư trú phải thông báo bằng phương thức điện tử cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử để không thực hiện khấu trừ thuế đối với cùng giao dịch đó.
Một số điểm mới đáng chú ý của Nghị định 253/2026/NĐ-CP về thuế thu nhập cá nhân
Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”) (“Nghị định 253”). Theo đó, một số nội dung thay đổi đáng chú ý như sau:
a) Mở rộng quy định về thu nhập được miễn thuế, giảm thuế, như:
- Tăng mức tiền ăn giữa ca, ăn trưa được miễn thuế lên 1,2 triệu đồng/người/tháng;
- Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm: phần chi trả vượt mức quy định của pháp luật không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động nếu được quy định cụ thể tại quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động;
- Miễn thuế đối với các khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ và tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép;…
b) Sửa đổi một số tiêu chí xác định người phụ thuộc (“NPT”)
- Mức thu nhập tối đa của NPT làm căn cứ xác định NPT của người nộp thuế tăng từ 1 triệu đồng/tháng lên 3 triệu đồng/tháng;
- Con trên 18 tuổi mất năng lực hành vi dân sự được bổ sung là NPT;
- Cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng được xác định là NPT khi đáp ứng điều kiện đang sống cùng người nộp thuế và người nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật liên quan khác;
- Quy định về NPT không có khả năng lao động: là người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên xác định theo quy định của pháp luật.
c) Các khoản giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế
(i) Bổ sung giảm trừ chi phí y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và NPT:
- Khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả: giảm trừ tối đa 23 triệu đồng/năm;
- Giáo dục - đào tạo tại cơ sở trong nước: giảm trừ tối đa 24 triệu đồng/năm;
(ii) Khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ: nâng mức giảm trừ tối đa 03 triệu đồng/tháng (bao gồm cả phần doanh nghiệp đóng và người lao động tự đóng).
d) Khấu trừ thuế TNCN 10% dối với thu nhập vãng lai từ 5 triệu đồng/lần trở lên
- Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.
- Nếu mức chi trả thu nhập dưới 5 triệu đồng/lần, bên trả thu nhập được khấu trừ khi cá nhân có yêu cầu.
e) Làm rõ quy định về tài sản số và giao dịch mới vào diện chịu thuế TNCN
- Tài sản số (tài sản ảo, tài sản mã hóa và các tài sản số khác theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số) được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN với số thuế được tính:
Thuế TNCN = Giá chuyển nhượng × 0,1%
- Các thu nhập khác từ chuyển nhượng tên miền “.vn”; kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon; biển số xe trúng đấu giá được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN với số thuế được tính:
Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế × 5%
f) Điều khoản chuyển tiếp
- Thời hạn đăng ký NPT và nộp hồ sơ chứng minh NPT của kỳ tính thuế năm 2025 trở về trước thực hiện theo quy định trước ngày Nghị định này có hiệu lực.
- Hồ sơ khai thuế năm 2026 đã nộp từ ngày 01/01/2026 đến trước ngày 01/07/2026 thì không phải nộp lại hồ sơ kê khai tháng, quý mà thực hiện điều chỉnh vào hồ sơ khai quyết toán thuế năm 2026.
--------------------
Bản tin này chỉ cung cấp thông tin chung về các vấn đề liên quan và không phải là ý kiến tư vấn chính thức của chúng tôi. Nếu quý công ty cần thêm thông tin cụ thể về vấn đề này hoặc hỗ trợ chuyên môn cho các trường hợp cụ thể của doanh nghiệp, vui lòng liên hệ với LA.
Trân trọng cảm ơn.