Bản tin Tháng 8/2025
Ngày 18/9/2025
Sửa đổi, bổ sung quy định về trường hợp người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động
Ngày 07/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 219/2025/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Theo đó, Nghị định này sửa đổi, bổ sung quy định về người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động gồm các trường hợp sau:
(i) Thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 154 của Bộ luật Lao động, cụ thể gồm:
- Là Trưởng văn phòng đại diện, dự án hoặc chịu trách nhiệm chính về hoạt động của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
- Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ.
- Vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được.
- Là luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật Luật sư.
- Trường hợp theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
(ii) Là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên của công ty trách nhiệm hữu hạn;
(iii) Là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên của công ty cổ phần;
(iv) Vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức theo quy định hay thỏa thuận trong các điều ước quốc tế về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài;
(v) Phóng viên nước ngoài hoạt động thông tin báo chí được Bộ Ngoại giao xác nhận;
(vi) Được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, làm nhà quản lý, giám đốc điều hành tại cơ sở giáo dục do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức liên chính phủ đề nghị thành lập tại Việt Nam hoặc các cơ sở, tổ chức được thành lập theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia;
(vii) Học sinh, sinh viên, học viên nước ngoài đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở Việt Nam hoặc nước ngoài có thỏa thuận thực tập hoặc thư mời làm việc cho người sử dụng lao động tại Việt Nam; học viên thực tập, tập sự trên tàu biển Việt Nam;
(viii) Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam được phép làm việc tại Việt Nam theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
(ix) Có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
(x) Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại;
(xi) Tình nguyện viên làm việc tại Việt Nam theo hình thức tự nguyện và không hưởng lương để thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam;
(xii) Vào Việt Nam thực hiện thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh ký kết theo quy định của pháp luật;
(xiii) Người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 01 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm;
b) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp: Di chuyển có thời hạn trong nội bộ doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ theo biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới và đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng liên tục. Hiện diện thương mại bao gồm tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.
(xiv) Được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào Việt Nam để thực hiện các công việc sau:
a) Giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao chương trình giáo dục quốc tế;
b) Làm nhà quản lý, giám đốc điều hành, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức liên chính phủ đề nghị thành lập tại Việt Nam.
(xv) Được các bộ, cơ quan ngang bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận vào Việt Nam làm việc trong các lĩnh vực: tài chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội.
Bổ sung các dự án áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư trong đấu thầu từ ngày 15/8/2025
Ngày 15/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 225/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư. Theo đó, Nghị định số 225/2025/NĐ-CP đã bổ sung các dự án được áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư trong đấu thầu bao gồm:
(i) Dự án do nhà đầu tư đề xuất mà nhà đầu tư đó có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với công nghệ thuộc danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về công nghệ cao;
(ii) Dự án cần tiếp tục lựa chọn nhà đầu tư trước đó đã triển khai hạ tầng số, nền tảng số nhằm bảo đảm tương thích, đồng bộ, kết nối về kỹ thuật;
(iii) Dự án cần đẩy nhanh tiến độ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm lợi ích quốc gia do nhà đầu tư đề xuất, gồm:
- Dự án cần thực hiện để ngăn chặn, khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, sự cố, thảm họa hoặc sự kiện bất khả kháng khác;
- Dự án quan trọng quốc gia được áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư theo Nghị quyết của Quốc hội;
- Dự án thuộc trường hợp chỉ định nhà đầu tư theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực;
- Dự án cần đẩy nhanh tiến độ nhằm phục vụ lễ kỷ niệm, sự kiện cấp quốc gia, cấp tỉnh;
- Dự án có hoạt động lấn biển nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo chỉ đạo tại Nghị quyết của Ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, văn bản thông báo ý kiến, kết luận của Ban Thường vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
- Dự án phát triển đô thị theo mô hình TOD thuộc phạm vi dự án đường sắt quốc gia theo quy định của pháp luật về đường sắt.
Giảm tiền thuê đất phải nộp của năm 2025
Ngày 19/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 230/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024. Theo đó, việc giảm tiền thuê đất phải nộp của năm 2025 được quy định như sau:
- Đối tượng và phạm vi áp dụng:
+ Giảm 30% tiền thuê đất phải nộp của năm 2025 đối với người sử dụng đất theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 đang được Nhà nước cho thuê đất dưới hình thức trả tiền thuê đất hằng năm (bao gồm cả trường hợp có và chưa có giấy tờ pháp lý về đất đai nhưng đang sử dụng đất mà phải nộp tiền thuê đất năm 2025 theo quy định và trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng đất nhưng chưa hoàn thiện hồ sơ về đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai).
+ Quy định này áp dụng cho cả trường hợp người sử dụng đất không thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền thuê đất hoặc hết thời hạn được miễn, giảm tiền thuê đất và trường hợp người sử dụng đất đang được giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.
- Căn cứ để xác định mức giảm tiền thuê đất của năm 2025:
+ Mức giảm được tính trên số tiền thuê đất phải nộp của năm 2025 theo Thông báo thu tiền thuê đất (nếu có) hoặc được tính theo quy định của pháp luật về tiền thuê đất trong trường hợp chưa có thông báo thu tiền thuê đất.
+ Không thực hiện giảm trên số tiền thuê đất còn nợ của các năm trước năm 2025 và tiền chậm nộp (nếu có).
- Trách nhiệm của chủ đầu tư:
+ Trong vòng 30 ngày, kể từ ngày có quyết định giảm tiền thuê đất năm 2025, chủ đầu tư được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm để đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất phải thực hiện phân bổ số tiền thuê đất được giảm của diện tích đất đã được chủ đầu tư cho thuê lại.
+ Trường hợp chủ đầu tư không thực hiện thì không được hưởng chính sách giảm tiền thuê đất theo quy định và phải hoàn trả ngân sách nhà nước số tiền thuê đất đã được giảm và tiền chậm nộp tính trên số tiền được giảm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Đối tượng áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu
Ngày 29/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 236/2025/NĐ-CP (“Nghị định 236”) quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu. Nghị định 236 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2025 và áp dụng từ năm tài chính 2024.
1. Đối tượng áp dụng: các đơn vị hợp thành thuộc tập đoàn đa quốc gia có doanh thu hằng năm trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao đạt từ 750 triệu euro trở lên trong ít nhất 2 năm của 4 năm liền kề trước năm tài chính tính thuế. Với các tập đoàn mới thành lập, nếu trong thời gian hoạt động dưới 4 năm mà đã có tối thiểu 2 năm đạt mức doanh thu nêu trên, đơn vị hợp thành cũng sẽ được xác định là người nộp thuế.
2. Đối tượng được loại trừ, bao gồm:
a) Tổ chức của chính phủ, tổ chức quốc tế, tổ chức phi lợi nhuận, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư là công ty mẹ tối cao, tổ chức đầu tư bất động sản là công ty mẹ tối cao;
b) Đơn vị có ít nhất 95% giá trị của đơn vị đó được sở hữu trực tiếp hoặc thông qua một hoặc nhiều đơn vị được loại trừ tại mục a (trừ tổ chức dịch vụ hưu trí) và đơn vị này (i) hoạt động chỉ hoặc chủ yếu với mục đích để nắm giữ tài sản/ đầu tư vốn vì lợi ích của các đơn vị được loại trừ và/hoặc (ii) chỉ thực hiện các hoạt động phụ trợ cho các hoạt động do các đơn vị được loại trừ thực hiện hoặc do bên thứ ba thuộc sở hữu của đơn vị được loại trừ (ít nhất 95% giá trị đơn vị) thực hiện;
c) Đơn vị có ít nhất 85% giá trị của đơn vị đó được sở hữu trực tiếp hoặc thông qua một hoặc nhiều đơn vị được loại trừ tại mục a (trừ tổ chức dịch vụ hưu trí) và phần lớn thu nhập của đơn vị này là cổ tức được loại trừ hoặc là lãi hoặc lỗ trên vốn chủ sở hữu được loại trừ khi tính thu nhập hoặc lỗ theo quy định;
d) Đơn vị là thành viên tập đoàn và thuộc sở hữu của quỹ đầu tư hoặc tổ chức đầu tư bất động sản đủ điều kiện, thì vẫn được công nhận là đơn vị được loại trừ, ngay cả khi quỹ hoặc tổ chức này không phải là công ty mẹ tối cao của tập đoàn đó;
e) Các đơn vị phụ trợ do tổ chức phi lợi nhuận sở hữu toàn bộ giá trị. Những đơn vị này được coi là loại trừ nếu doanh thu hợp nhất của tập đoàn, sau khi loại trừ các khoản từ tổ chức phi lợi nhuận hoặc các đơn vị được loại trừ khác, chiếm dưới 25% tổng doanh thu và không vượt ngưỡng 750 triệu euro.
Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Ngày 18/8/2025, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2837/QĐ-BTC về tổ chức Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Theo đó, việc tổng điều tra sẽ được tiến hành đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh trên phạm vi cả nước với thông tin chi tiết như sau:
- Đối tượng tổng điều tra: Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân (sau đây gọi tắt là “doanh nghiệp”); đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; hội, hiệp hội; cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; tổ hợp tác; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng.
- Nội dung cơ bản của tổng điều tra:
(i) Nhận dạng và phân loại đơn vị điều tra: Thông tin định danh, ngành hoạt động sản xuất kinh doanh, loại hình kinh tế;
(ii) Điều kiện sản xuất kinh doanh của đơn vị điều tra: Thông tin về lao động, tài sản, nguồn vốn của đơn vị điều tra;
(iii) Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị điều tra: Thông tin về sản phẩm, doanh thu, chi phí sản xuất kinh doanh;
(iv) Ứng dụng khoa học công nghệ của đơn vị điều tra: Ứng dụng công nghệ hiện đại, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh; kinh tế số, thương mại điện tử;
(v) Thông tin chuyên đề chuyên sâu.
- Thời gian thu thập và công bố thông tin:
(i) Thời gian thu thập thông tin thực hiện theo 02 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 (từ ngày 05/01/2026 đến hết ngày 31/3/2026): Thu thập thông tin các đơn vị điều tra là cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; tổ hợp tác; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng.
+ Giai đoạn 2 (từ ngày 01/4/2026 đến hết ngày 31/8/2026): Thu thập thông tin đối với doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; hội, hiệp hội; cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam.
(ii) Thời gian công bố thông tin: Kết quả sơ bộ được công bố vào tháng 01/2027. Kết quả chính thức được công bố vào quý III năm 2027.
- Trách nhiệm của Tổ chức, cá nhân được điều tra thống kê:
(i) Cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của điều tra viên thống kê hoặc cơ quan tiến hành tổng điều tra;
(ii) Không được từ chối hoặc cản trở việc cung cấp thông tin điều tra thống kê;
(iii) Chịu sự kiểm tra của Bộ Tài chính, Cục Thống kê, Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về thông tin đã cung cấp.
--------------------
Bản tin này chỉ cung cấp thông tin chung về các vấn đề liên quan và không phải là ý kiến tư vấn chính thức của chúng tôi. Nếu quý công ty cần thêm thông tin cụ thể về vấn đề này hoặc hỗ trợ chuyên môn của chúng tôi cho các trường hợp cụ thể của doanh nghiệp, vui lòng liên hệ với chúng tôi.
Trân trọng cảm ơn.