Những điểm mới đáng chú ý của một số Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2026
Ngày 19/12/2025
Từ ngày 01/01/2026, một số Luật quan trọng như Luật Việc làm; Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sẽ chính thức có hiệu lực. Theo đó, doanh nghiệp cần lưu ý những nội dung chính sau đây để chủ động trước những thay đổi, điều chỉnh của quy định pháp luật.
1. Luật Việc làm số 74/2025/QH15
(1) Mở rộng đối tượng người lao động (“NLĐ”) tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Trước đây, đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp chỉ bao gồm NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ 03 tháng trở lên. Quy định mới mở rộng NLĐ làm việc theo HĐLĐ từ đủ 01 tháng trở lên, đồng thời bổ sung thêm 03 trường hợp thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể:
a. Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp NLĐ và người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
b. NLĐ tại điểm a nêu trên làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội;
c. Người làm việc theo hợp đồng làm việc;
d. Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương.
NLĐ theo các trường hợp nêu trên mà đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng theo quy định của Chính phủ hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu; NLĐ đang làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động; NLĐ là người giúp việc gia đình thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
(2) Linh hoạt mức đóng bảo hiểm thất nghiệp: NLĐ đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng; NSDLĐ đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những NLĐ đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp (Trước đây, mức đóng là cố định bằng 1%);
(3) Quy định cụ thể trường hợp và điều kiện áp dụng chính sách Hỗ trợ NSDLĐ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
· NSDLĐ được hỗ trợ trong trường hợp ảnh hưởng đến việc làm hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến việc làm của nhiều NLĐ tham gia bảo hiểm thất nghiệp như sau:
o Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế theo quy định tại Bộ luật Lao động;
o Thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm;
o Thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất kinh doanh;
o Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
· NSDLĐ được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau đây:
o Đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp từ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ;
o Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm.
2. Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 66/2025/QH15
(1) Mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (“TTĐB”), cụ thể: (i) Tàu lượn; (ii) Nước giải khát theo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) có hàm lượng đường trên 5g/100mL;
(2) Bổ sung đối tượng không chịu thuế TTĐB là các hàng hóa được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Thuế TTĐB trong các trường hợp:
(i) Hàng hóa do tổ chức, cá nhân thuê gia công trực tiếp xuất khẩu ra nước ngoài;
(ii) Hàng hóa nhập khẩu bao gồm:
· Hàng hóa trung chuyển; hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào kho ngoại quan sau đó xuất khẩu sang nước khác theo quy định của pháp luật về hải quan;
· Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài đã nộp thuế TTĐB bị phía nước ngoài trả lại khi nhập khẩu;
· Tàu lượn sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lịch và máy bay, trực thăng, tàu lượn sử dụng cho mục đích an ninh, quốc phòng, cứu thương, cứu hộ, cứu nạn, chữa cháy, huấn luyện đào tạo phi công, quay phim, chụp ảnh, đo đạc bản đồ, sản xuất nông nghiệp.
(3) Bổ sung thêm 01 căn cứ tính thuế TTĐB áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối. Tương ứng, phương pháp tính thuế TTĐB thay đổi như sau:
Thuế TTĐB phải nộp = Thuế TTĐB áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm + Thuế TTĐB áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối (nếu có)
Trong đó:
· Thuế TTĐB áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm = Giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế x Thuế suất
· Thuế TTĐB áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối = Lượng hàng hóa chịu thuế x Mức thuế tuyệt đối
3. Luật số 75/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14, Luật số 42/2024/QH15 và Luật số 47/2024/QH15
(1) Luật số 75/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 (“Luật Quảng cáo 2025”) bổ sung “Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo” vào định nghĩa “Người phát hành quảng cáo”. Theo đó, định nghĩa “Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo” được mở rộng bao gồm “người trực tiếp quảng cáo, khuyến nghị, xác nhận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên mạng hoặc trực tiếp quảng cáo bằng hình thức mặc, treo, gắn, dán, vẽ, sử dụng có mục đích sinh lợi hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ”. Đây là một trong những thay đổi quan trọng thể hiện sự quản lý chặt chẽ hơn hoạt động quảng cáo trực tuyến và quảng cáo thông qua cá nhân.
Trên cơ sở đó, Luật Quảng cáo 2025 bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của người chuyển tải sản phẩm quảng cáo, bao gồm tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các quy định khác của pháp luật về việc cung cấp thông tin liên quan đến tính năng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi thực hiện quảng cáo; thực hiện nghĩa vụ về thuế khi phát sinh doanh thu từ dịch vụ quảng cáo; cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung quảng cáo khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu;… Đặc biệt, đối với “người có ảnh hưởng”, Luật Quảng cáo 2025 yêu cầu xác minh về độ tin cậy của người quảng cáo; kiểm tra tài liệu liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quảng cáo; trường hợp chưa sử dụng hoặc chưa hiểu rõ về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thì không được giới thiệu về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; và thông báo về việc quảng cáo ngay trước và trong khi thực hiện hoạt động quảng cáo.
(2) Luật Quảng cáo 2025 cho phép quảng cáo so sánh có chứng cứ hợp pháp. Theo đó, Luật Quảng cáo 2025 sửa đổi hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo, cho phép quảng cáo so sánh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác nếu có tài liệu hợp pháp chứng minh.
(3) Sửa đổi, bổ sung quy định về yêu cầu đối với nội dung quảng cáo gồm:
· Nội dung quảng cáo phải trung thực, chính xác, rõ ràng; không gây hiểu nhầm về tính năng, chất lượng, công dụng, tác dụng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
· Trường hợp quảng cáo có yêu cầu phải ghi chú, khuyến cáo, cảnh báo thì phải thể hiện đầy đủ, rõ ràng, dễ tiếp cận; chữ viết có màu tương phản với màu nền và không được nhỏ hơn cỡ chữ trong sản phẩm quảng cáo; nội dung ghi chú, khuyến cáo, cảnh báo phải được đọc đầy đủ, rõ ràng với tốc độ và âm thanh tương đương tốc độ và âm thanh của các nội dung khác trong cùng sản phẩm quảng cáo.
· Nội dung quảng cáo không bao gồm:
o Tài liệu, thông tin, hình ảnh mô tả sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và sản phẩm, hàng hoá được tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh cung cấp để thực hiện hoạt động khuyến mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại, trừ thực phẩm chức năng, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt thực hiện theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm;
o Nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa, bao bì sản phẩm theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa, trừ thực phẩm chức năng, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt thực hiện theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm; nội dung phải công bố công khai và cung cấp cho khách hàng, người tiêu dùng; nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của hàng hóa; nội dung thuộc trách nhiệm và nghĩa vụ cung cấp thông tin khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
(4) Bổ sung quy định về điều kiện quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt: Khi quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt phải có văn bản hoặc thông tin chứng nhận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó được phép lưu hành hoặc thực hiện tại Việt Nam còn hiệu lực theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt không thuộc danh mục phải cấp phép và đảm bảo các điều kiện cụ thể của luật.
4. Luật số 78/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14
(1) Bổ sung quy định về phân loại sản phẩm, hàng hóa theo 03 mức độ rủi ro, bao gồm: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro thấp; trung bình; và cao.
Theo đó, tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro bao gồm: mức độ tác động đến sức khỏe, môi trường, khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng và cảnh báo từ tổ chức quốc tế.
(2) Bổ sung khái niệm “hộ chiếu số của sản phẩm” nhằm quản lý minh bạch hơn trong môi trường số. Theo đó, hộ chiếu số của sản phẩm là tập hợp các thông tin về sản phẩm và chuỗi cung ứng của sản phẩm đó, được lưu trữ bằng mã vạch hoặc các phương thức phù hợp hoặc thông qua cơ sở dữ liệu thông tin bằng đường dẫn, bảo đảm có thể đọc hoặc kết nối được thông qua thiết bị phù hợp.
(3) Phải công khai thông tin hàng hóa kinh doanh trên nền tảng số từ ngày 01/01/2026. Theo đó, tổ chức, cá nhân bán hàng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử bao gồm:
· Tên hàng hóa, xuất xứ, tên tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa;
· Dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy theo quy định của pháp luật;
· Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo an toàn (nếu có);
· Thông tin khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
(4) Sửa đổi, bổ sung một số quy định về hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm:
· Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng, nguồn gốc và xuất xứ sản phẩm, hàng hóa; kinh doanh sản phẩm, hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, đặc biệt trên nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử, gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng;
· Che giấu thông tin về mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn của động vật, thực vật, tài sản hoặc môi trường;
· Thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa gây nhầm lẫn, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác.
(5) Sửa đổi, bổ sung quy định về công bố tiêu chuẩn áp dụng, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy như sau:
· Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
· Việc công bố tiêu chuẩn áp dụng được thể hiện theo một trong các hình thức sau đây:
o Trên hàng hóa;
o Trên bao bì hàng hóa;
o Trên nhãn hàng hóa;
o Trong tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa.
· Việc công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
---------------------
Việc nhiều văn bản luật thay đổi và có hiệu lực vào đầu năm 2026 không chỉ mang đến nhiều chính sách mới hỗ trợ doanh nghiệp mà còn là thách thức, yêu cầu doanh nghiệp phải nắm bắt và tiếp cận một cách nhanh chóng để đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Để nhận được sự hỗ trợ, tư vấn kịp thời về mặt pháp lý, Quý doanh nghiệp có thể liên hệ với chúng tôi theo thông tin sau đây:
CÔNG TY LUẬT HỢP DANH LA
Địa chỉ: Phòng D14, Lầu 2, 40 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 028 3930 6949
Email: thaianh.luong@la-vn.com